|
|
|
SƠ
LƯỢC TIỂU SỬ GIÁO SƯ TẠ QUANG BỬU
Cựu Tổng Ủy viên Hội Hướng Đạo Trung Kỳ
---oOo---
(Tư
liệu của trang Web taquangbuu.infirms.com)
Giáo sư Tạ
Quang Bửu là một trong những nhà trí thức tài
giỏi nhất của Việt Nam từ khi giành lại
độc lập năm 1945. Ông đă cống hiến
rất nhiều cho cách mạng giải phóng dân tộc cũng
như nền khoa học nước nhà, và góp phần không
nhỏ trong sự nghiệp phát triển giáo dục
Việt Nam.
Ông
sinh ngày 23-7-1910 tại thôn Hoành Sơn, xă Nam Hoành,
Huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Năm
1917, tại Tam Kỳ - Quảng Nam, trong kỳ thi về Hán
ngữ - văn hóa Việt - toán được tổ
chức cho các trẻ em lên bảy, cậu bé Bửu đă
đỗ rất cao và từ đó trở nên nổi
tiếng v́ học tập xuất sắc.
Năm
1922, Bửu thi đỗ vào trường Quốc học.
Bốn năm sau, cậu thi Thành chung đỗ hạng nh́.
Rồi sau đó ra Hà Nội học ở trường Bưởi.
Năm
1929, cậu Bửu đỗ đầu tú tài bản
xứ và đỗ đầu tú tài toán của một trường
Tây, đồng thời đạt điểm rất cao
trong kỳ thi triết học cũng ở trường này.
Toán và triết là hai môn học mà cậu Bửu thích
nhất. Sau đó, nhờ vào thành tích học tập,
Bửu nhận được học bổng du học
ở Pháp.
Đến
Paris, Bửu chọn toán là ngành học chính. Giáo sư
Beaulian dạy toán rất yêu mến Bửu v́ cậu mê toán,
rất thông minh, và khả năng suy luận sắc
sảo. Trong kỳ thi tốt nghiệp có hơn 100 sinh viên
tham dự, chỉ có 4 người thi đỗ. Và Bửu
là 1 trong số 4 người đó.
Tốt
nghiệp xong, Bửu đến Bordeaux để học
về cơ khí. Rồi cậu thi đỗ và giành
được học bổng vào đại học danh
tiếng Oxford ở nước Anh. Trong thời gian ở
Anh, Bửu rất tích cực tham gia phong trào hướng
đạo. Có lẽ Bửu là hướng đạo sinh
Việt Nam đầu tiên dự trại Tráng sĩ của
tổ chức hướng đạo thế giới. Ông
được dự khóa đào tạo trại trưởng
ở Anh và được cấp bằng trại trưởng
huấn luyện (DCC) cho toàn Đông Dương.
Khi
học ở Pháp cũng như ở Anh, Tạ Quang Bửu
có một lối nghĩ và cách học rất độc
đáo: Học để biết chứ không phải
học có bằng cấp, học một cách tự giác và
tự học là chính, tự trang bị cho ḿnh những
kiến thức mới của thời đại. Tự
học suốt đời là phương châm mà ông đă
thực hiện một cách xuất sắc. Chính v́ vậy
mà ông có một nền kiến thức cơ bản
rất vững chắc, hiểu biết rộng nhiều lănh
vực khác nhau của khoa học như toán học,
vật lư học, cơ học, điện, vô tuyến
điện, sinh học…và cả triết học, thể
dục thể thao.
Trở
về nước, Bửu từ chối trở thành công
chức trong bộ máy cai trị của thực dân Pháp. Ông
nhận giảng dạy tiếng Anh và toán tại trường
Phú Xuân và trường Provindence, 2 trường tư
ở Huế. Trong thời gian này, ông chú tâm rèn luyện
thêm tiếng Hán. Ông c̣n cộng tác với nhiều công ty
công nghiệp của nước ngoài. Ông đă làm
thực dân Pháp sửng sốt khi từ chối nhận huân
chương Bắc đẩu bội tinh khi ông thiết
kế thành công đường dây điện cao thế
cho nhà máy vôi Long Thọ.
Ḷng
tha thiết yêu tổ quốc, căm ghét thực dân đô
hộ Pháp của anh thanh niên Tạ Quang Bửu đă
được nhen nhóm từ thuở thiếu thời dưới
ảnh hưởng sâu sắc của những nhà nho yêu nước,
trong đó có cụ Phan Bội Châu.
Tạ
Quang Bửu trở thành tổng ủy viên của xứ
hội Hướng đạo Trung kỳ trong khoảng
thời gian từ 1942-1945. Trong suốt quá tŕnh làm hướng
đạo của ḿnh, trưởng DCC Tạ Quang Bửu
luôn có một mục đích rơ ràng là hướng
dẫn các đoàn sinh đi theo con đường yêu nước,
làm việc có ích cho xă hội. Những người hướng
đạo sinh đă được rèn luyện cả
về thể lực lẫn ư chí trong những điều
kiện cực kỳ gian khổ không chỉ v́ mục
đích làm việc thiện mà c̣n có mục đích cao
cả hơn, đó là phục vụ tổ quốc.
Giáo
sư Tạ Quang Bửu là một trong những trí thức
đầu tiên đứng trong hàng ngũ cách mạng. Tháng
8-1945, ông ra Hà Nội tham gia cách mạng, giữ chức
Tham nghị trưởng Bộ Ngoại giao, giúp Bác
Hồ làm công tác đối ngoại rất phức
tạp trong những tháng đầu của cách mạng.
Năm
1946, ông đă là thứ trưởng, rồi bộ trưởng
quốc pḥng của chính phủ Việt Nam Dân Chủ
Cộng Ḥa. Tháng 9-1948, ông đề nghị Bác Hồ
cử Vơ Nguyên Giáp làm bộ trưởng, c̣n ông chỉ
giữ chức thứ trưởng để giúp tướng
Giáp trong chuyên môn khoa học kỹ thuật về quân
sự. Trong công việc chế tạo vũ khí, ông đă
đóng góp rất nhiều cho kỹ thuật quân sự
của quân đội Việt Nam. Chính giáo sư Trần
Đại nghĩa đă nói: “Đúng là trong một
số công việc cụ thể, tôi trực tiếp làm
nhiều hơn. Nhưng sở dĩ tôi có thể làm
được những công việc ấy, là nhờ luôn
luôn được anh Bửu chỉ dẫn, giúp đỡ
và cộng tác.”
Năm
1954, Tạ Quang Bửu tham gia đoàn đàm phán của chính
phủ tại hội nghị Genève, ông là người thay
mặt quân đội nhân dân Việt Nam kư văn bản
quân sự của hiệp định Genève.
Từ
năm1956, giáo sư Tạ Quang Bửu giữ các chức
vụ: Giám đốc Trường đại học Bách
Khoa Hà Nội rồi Phó chủ nhiệm Uỷ ban Khoa
học nhà nước.
Giáo
sư Bửu rất ham đọc sách, ông đọc
bất cứ khi nào rảnh ở bất cứ nơi
đâu. Ông đọc rất nhanh nhưng nhớ rất lâu.
Ông lại có khả năng ngoại ngữ đặc
biệt. Ngoài tiếng Pháp, Anh, Hoa, ông c̣n sử dụng
được tiếng Nga, tiếng Ba Lan, tiếng Đức.
Các nhà ngoại giao cũng như các phóng viên nước
ngoài khi tiếp xúc đều hết sức thán phục
về sự thông minh sắc sảo cũng như khả năng
phát âm hoàn hảo tiếng Anh của ông.
Trong
kháng chiến chống Mỹ, giáo sư Tạ Quang Bửu
đứng đầu tổ nghiên cứu thiết
kế chế tạo khí tài phá thủy lôi và bom từ trường
của Mỹ. Các khí tài này được nghiên cứu
chế tạo thành công, cung cấp cho hải quân Việt
Nam đi quét thủy lôi & ḿn và Mỹ rải dày đặt
tại hải phận miền Bắc Việt Nam. Các khí tài
này đă phá hủy thành công cả loại thủy lôi
chiến lược mạnh nhất của Mỹ lúc
bấy giờ là loại thủy lôi MK52 (đủ sức
đánh ch́m tàu 10 vạn tấn).
Từ
1965 đến 1976, trên cương vị Bộ trưởng
Bộ ĐH & THCN, ông đă góp phần quan trọng
trong việc đào tạo nhiều cán bộ khoa học,
từ việc góp ư kiến về phương hướng
nghiên cứu đến việc tháo gỡ những khó khăn
cụ thể tạo điều kiện cho họ đến
học tập, nghiên cứu ở các trung tâm khoa học, các
trường đại học danh tiếng của các nước.
Ông là vị bộ trưởng duy nhất đă thường
xuyên đọc các bài giảng về những vấn
đề hiện đại của toán học, vật lư
học, cơ học, sinh học, y học…, với
những cách diễn giải đơn giản những
vấn đề phức tạp, có sức hút mănh
liệt đối với người nghe, gợi cho
họ ḷng khát khao muốn hiểu sâu về các vấn
đề được tŕnh bày.
Là
người liêm khiết trong cuộc sống, trong sáng
trong suy nghĩ và hành động, giáo sư đă không màng
tới những đặc quyền đặc lợi cho ḿnh
và cho gia đ́nh ḿnh. Suốt đời cho đến lúc
nhắm mắt, xuôi tay, giáo sư luôn giữ một
nếp sống giản dị, thanh bạch, gần gũi
với mọi người. Người ta thường
nhắc đến một đặc quyền duy nhất
của giáo sư là quyền được vào tận kho
sách của Thư Viện Trung Ương để lục
sách và mang về nhà cho đến khi dùng xong. Đối
với con cái, giáo sư cũng không dành cho những ưu
đăi đặt biệt nào, mặc dù ông đă từng
quyết định cử hàng chục ngh́n học sinh
đi du học nước ngoài. Tất cả các con trai
của giáo sư đều hoặc đi làm công nhân,
hoặc thực hiện nghĩa vụ quân sự rồi
mới tiếp tục học đại học trong nước.